TRỌNG LƯỢNG CƠ THỂ VÀ BỆNH TẬT

Theo sự ước lượng của Trung Tâm Kiểm Soát và Phòng Ngừa Bệnh Tật Hoa Kỳ CDC (the US Center for Disease Control and Prevention), mỗi năm, ở Hoa Kỳ có khoảng 300,000 người chết do những căn bệnh liên quan đến sự phì mập. Không riêng gì ở Hoa Kỳ mà 61% người lớn quá nặng cân, sự phì mập đã trở thành một dịch nạn (obesity epidemic) đang đe dọa nhiều nước trên thế giới, kể cả những nước đang phát triển như Trung Quốc hay Ba Tây chẳng hạn. Trong cuộc họp của WHO về sự phì mập (a World Health Organization Consultation on Obesity) được tổ chức tại Geneva từ 03 đến 05/06/1997, Hội nghị đã đồng ý dùng Chỉ Số Khối Lượng Cơ Thể (the Body Mass Index – BMI) làm tiêu chuẩn quốc tế để xác định khi nào một người được xem là quá nặng cân (overweight) hay phì mập (obesity). Từ đầu thập niên 90, phần lớn các y sĩ và những nhà nghiên cứu về sự phì mập ở Hoa Kỳ đã chọn BMI thay thế cho phương pháp tính của công ty Metropolitan Life Insurance được dùng rất phổ biến trước đó. Tuy nhiên, vì BMI chỉ tính toán căn cứ vào chiều cao và trọng lượng của cơ thể mà không tính đến những yếu tố khác như thể trạng của người ấy nên một số nhà chuyên môn đã đề nghị sử dụng thêm 1 phương pháp bổ sung là Tỷ Số Chu Vi Eo-Mông (the Waist-to-Hip Ratio – WHR).

I- CHỈ SỐ KHỐI LƯỢNG CƠ THỂ – BMI:

Chỉ số khối lượng cơ thể (the Body Mass Index – BMI) là một phương pháp được sử dụng để đo tỷ lệ phần trăm lượng mỡ trong cơ thể (body fat) của một người căn cứ vào chiều cao và trọng lượng cơ thể của người ấy.

Có 2 cách tính tùy theo sự chọn lựa hệ thống cân đo của Anh-Mỹ (English measurements) hay hệ Mét (metric measurements).

1) Tính theo hệ cân đo Anh-Mỹ: (dùng đơn vị pounds và inches)
Bước 1: Nhân trọng lượng cơ thể (tính bằng pounds) với 704.5;
Bước 2: Nhân chiều cao của cơ thể (tính bằng inches) với chính nó (cũng tính bằng inches); hay nói cách khác, bình phương chiều cao của cơ thể (tính bằng inches);
Bước 3: Lấy kết quả ở bước1 chia cho kết quả ở bước 2.
Kết quả tìm được là BMI.
Thí dụ:
Trọng lượng cơ thể là 140 lbs; Chiều cao là 5 feet 5 inches, đổi ra inches sẽ là: (1foot=12 inches) (5X12”) + 5” = 65”
Nhân trọng lượng cơ thể với 704.5: 140 lbs X 704.5 = 98,630 Bình phương chiều cao: 65” X 65” = 4,225 Chia kết quả tìm thấy ở bước1 cho bước2: 98,630 : 4,225 = 23.34 BMI là: 23.34

2) Tính theo hệ mét: (dùng đơn vị Kg và mét)
Bước 1: Lấy chiều cao (tính bằng mét) nhân với chiều cao (cũng tính bằng mét); hay nói cách khác, bình phương chiều cao (tính bằng mét);
Bước 2: Lấy trọng lượng cơ thể (tính bằng Kgs) chia cho kết quả ở bước1.
Kết quả tìm được là BMI.
Thí dụ: Chiều cao là 1.65 mét, và trọng lượng cơ thể là 63.6 Kgs. Bình phương chiều cao: 1.65m X 1.65m = 2.7225 Lấy trọng lượng cơ thể chia cho kết quả tìm thấy ở bước1: 63.6 : 2.7225 = 23.36 BMI là: 23.36

Ý nghĩa của các chỉ số tìm được:
– Nếu BMI nhỏ hơn 19: Cơ thể thiếu ký (underweight). Điều này có nghĩa là lượng mỡ trong cơ thể (body fat) quá thấp. Nếu bạn là vận động viên, BMI như vậy có thể chấp nhận được. Nhưng nếu bạn không phải là một vận động viên, BMI thấp cho thấy rằng thể trọng của bạn quá thấp, có thể dẫn đến việc hạ thấp sự miễn nhiễm của cơ thể bạn. Nếu BMI và thể trọng của bạn thấp, bạn nên nghĩ đến việc tăng cân bằng một chế độ ăn uống tốt (good diet) và tập thể dục để làm tăng khối lượng các bắp thịt.

– Nếu BMI từ 19 đến 24.9: Thể trọng lý tưởng (ideal, healthy weight). Điều nầy cho thấy lượng mỡ trong cơ thể của bạn ở mức độ khỏe mạnh, lý tưởng; nó sẽ giúp bạn sống lâu hơn, khỏe mạnh hơn, và giảm thấp nguy cơ mắc phải những trọng bệnh.

– Nếu BMI từ 25.0 đến 29.9: Thể trọng của bạn đã quá nặng (overweight) rồi đó. Để không bị gọi là “bao gạo”, bạn nên sớm tìm cách làm giảm cân qua chế độ ăn uống thích đáng, kết hợp với tập thể dục. Bạn có nguy cơ mắc phải nhiều loại bệnh tật nếu bạn không làm sao để giảm ít nhất là 10% trọng lượng cơ thể hiện có.

– Nếu BMI từ 30 trở lên: Bạn đang mắc chứng phì mập (Obese), và bạn cực kỳ mập phì (Extremely obese) nếu BMI trên 39.9. Điều nầy cho thấy điều kiện sức khỏe của bạn đang rất tồi tệ. Sự “mầu mỡ” vượt mức đó đang đưa bạn vào danh sách những người mắc các bệnh về tim mạch, tiểu đường, cao huyết áp, các bệnh về túi mật, ung thư, . . . là những bệnh gây tử vong hàng đầu trên thế giới, cũng như tại Hoa Kỳ. Về điểm nầy sẽ trình bày chi tiết hơn trong phần sau.

II- TỶ SỐ EO-MÔNG – WHR:

Tỷ số eo-mông (the Waist-to-Hip Ratio – WHR) là một phương pháp được sử dụng để xác định sự phân phối mỡ trên cơ thể (body fat) của một người. Để tính được tỷ số eo-mông WHR, bạn phải có 2 số đo, số đo chu vi vòng eo (Waist Circumference), và số đo chu vi vòng mông (Hip Circumference).
Với cái thước dây của thợ may, bạn đo vòng eo của bạn ở vị trí có chu vi nhỏ nhất trong khu vực dưới lồng ngực và trên rốn, và đo vòng mông ở vị trí có số đo lớn nhất. Nhớ đo trực tiếp trên da thay vì đo bên ngoài áo quần. Giữ thước đừng quá lơi hay quá chặt và giữ vòng thước nằm ngang. Nên đo 3 lần mỗi vòng rồi lấy số trung bình cộng hầu có kết quả chính xác. Bạn nên đứng thẳng người, hai chân khép lại, bụng thả lỏng khi lấy số đo chu vòng eo.
Sau khi có được số trung bình của 2 vòng eo, mông, đem số trung bình chu vi của vòng eo chia cho số trung bình của chu vi vòng mông của bạn, bạn sẽ có được tỷ số eo-mông WHR.
Đối với quý ông, WHR đáng mong ước phải nhỏ hơn 0.9; điều nầy có nghĩa là vòng eo của bạn bằng 90% vòng mông. Còn đối với quý bà, đặc biệt là các bà trung niên hoặc cao niên, WHR nên dưới 0.8 (vòng eo bằng 80% vòng mông).
Về hình dạng cơ thể (body shapes), WHR là một chỉ dấu chắc chắn tiên báo về bệnh tật, đặc biệt là các bệnh về tim mạch, cao huyết áp, túi mật, tiểu đường. Nếu WHR của bạn nhỏ hơn 1, cơ thể của bạn có dạng trái lê (a pear shape), tức là vòng eo của bạn nhỏ hơn vòng mông; ngược lại, nếu WHR của bạn lớn hơn 1, bạn thuộc dạng trái táo (an apple shape), nghĩa là mông của bạn lớn hơn eo.
Với thân dạng “trái táo”, lượng mỡ thặng dư tập trung trước hết ở vùng thắt lưng; còn thân dạng “trái lê’, lượng mỡ thặng dư phần lớn dồn vào vùng chậu, mông và đùi của bạn. Vị trí tập trung của lượng mỡ thặng dư sẽ nói cho bạn biết vê những gì đang diễn ra trong cơ thể của bạn.
Khi mỡ tích tụ ở vùng bụng và hông, chúng không chỉ nằm ở dưới da mà còn tập trung trong toàn bộ thân thể của bạn, tích tụ quanh trái tim, lá gan, cặp thận, và cả bộ ruột của bạn nữa. Chúng bắt đầu phát triển ở những cơ quan vừa kể khiến cho sự lưu thông của máu bị trở ngại, và làm cho các cơ quan nầy không thể thực hiện một cách bình thường các chức năng của chúng.
Các nghiên cứu cho thấy rằng hormone insulin có ảnh hưởng rất lớn đối với các tế bào mỡ (fat cells) ở vùng bụng. Vì lý do nầy, những người mà sự trao đổi chất (còn gọi là sự biến dưỡng) trong cơ thể kém và những người mà cơ thể phát triển sự kháng insulin (insulin resistance) thường bị mỡ tích tụ ở vùng bụng tạo ra thân dạng hình trái táo.
Vì cơ thể sản xuất quá mức insulin tạo sự tích lũy mỡ ở vùng bụng, người có thân dạng “trái táo”, bụng phệ, sẽ gặp những rắc rối về trao đổi chất có liên quan đến insulin; do đó, sẽ sớm phát các bệnh như cao huyết áp, cao triglycerides, cao cholesterol, các bệnh về tim mạch, và bệnh tiểu đường.
Nếu bạn có thân dạng hình “trái táo”, mỡ tích tụ nhiều quanh vùng bụng, muốn tránh bệnh tật, duy trì và tăng cường sức khỏe, ngay từ bây giờ bạn phải tìm mọi cách để đưa WHR của bạn về ở mức khỏe mạnh, nghĩa là dưới 0.9 đối với quý ông, và dưới 0.8 đối với quý bà; bởi vì, WHR càng cao, nguy cơ mắc những bệnh tật có liên quan đến chất insulin “hiểm ác” càng nhiều.
Việc mỡ tích tụ ở phần dưới của cơ thể của cơ thể cũng có liên quan đến chất insulin, nhưng sự tích tụ nầy không trực tiếp gây ra bởi sự bất quân bình insulin (insulin imbalance); hơn nữa, sự tích tụ mỡ vào phần cơ thể dưới thắt lưng nầy không dẫn đến sự xâm phạm các cơ quan trọng yếu (vital organs) trong cơ thể.
Mỡ tích tụ ở phần dưới thắt lưng (khiến thân dạng của bạn có hình “trái lê”), không tức thời đe dọa đến sức khỏe của bạn như khi thân dạng của bạn có hình “trái táo”, nhưng bạn cần cảnh giác vì ngòi nỗ (fuse) đã được gài rồi đó, và nó có thể bùng nỗ bất cứ lúc nào.
Vì tế bào mỡ trong toàn cơ thể luôn chịu tác động của insulin nên việc tích tụ mỡ ở bất kỳ nơi nào trong cơ thể cũng do sự quá nhiều insulin gây ra. Với thời gian, khi sự kháng insulin (insulin resistance) trở nên xấu hơn, những người mà mỡ trước đây chỉ tích tụ ở phần dưới thắt lưng sẽ bắt đầu tích lũy mỡ ở vùng trên thắt lưng và họ sẽ cũng bắt đầu nếm mùi của tất cả mọi hiểm họa tức thời của các bệnh tật mà những bạn bè có thân dạng “trái táo” của họ đang gánh chịu.
Giải pháp cho những vấn nạn kể trên là phải làm ngay tức thì những gì cần phải làm, tìm hiểu cơ thể bạn đang ở trong tình trạng như thế nào và hành động cấp thời để phục hồi sự lành mạnh cho cơ thể.

III- NHỮNG HẬU QUẢ CỦA SỰ PHÌ MẬP:

Sự phì mập nối liền với nhiều bệnh mãn tính. Sau đây là một số ác bệnh liên quan đến sự phì mập:
1) Cao huyết áp (Hypertension, High Blood Pressure): thủ phạm góp phần trong việc dẫn đến tai biến mạch máu não và các bệnh về tim mạch. Khoảng 30% những người có thể trọng cao hơn bình thường (BMI trong khoảng 19.0 – 24.9) 30 lbs bị cao huyết áp. Những người quá nặng cân (overweight) trong độ tuổi 25 – 45 thường bị cao huyết áp 6 lần cao hơn những người cùng lứa tuổi có thể trọng bình thường. Những người phì mập cao tuổi hơn thì nguy cơ mắc bệnh càng lớn hơn.

2) Tiểu đường (Diabetes): Phì mập là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến bệnh tiểu đường. Mặc dầu chỉ mập vừa thôi, đặc biệt là những người có thân dạng “trái táo” (mỡ tích tụ nhiều ở vùng trên thắt lưng), nguy cơ mắc bệnh tiểu đường cao gấp 10 lần người có thể trọng khỏe mạnh. Cần lưu ý rằng những người có cha, mẹ, hoặc anh, chị, em bị bệnh tiểu đường dễ mắc bệnh nầy hơn những người khác.

3) Ung thư (Cancer): Mập phì làm tăng cao nguy cơ mắc bệnh ung thư. Ở nam giới, bệnh ung thư thường phát triển ở kết tràng (colon), trực tràng (rectum), và tuyến tiền liệt, còn gọi là nhiếp hộ tuyến (prostate). Ơ nữ giới, ung thư thường phát triển ở vú (breast), cổ tử cung (cervix), tử cung (uterus), và buồng trứng (ovaries). Nguy cơ mắc phải ung thư ở cơ quan sinh dục (endometrial cancer) nơi các bà phì mập cao hơn 7 lần so với các bà có thể trọng bình thường.

4) Cao mỡ trong máu (High Cholesterol): Nguyên nhân khiến mức cholesterol cao trong máu thường vào khoảng 2/3 do di truyền, và 1/3 do chế độ ăn uống, lối sống. Ăn uống quá độ và lối sống tĩnh tại (sedentary lifestyle), ít vận động sẽ dẫn đến tình trạng cao mỡ trong máu. Cao cholesterol, cùng với cao huyết áp là thủ phạm gây ra các bệnh về tim mạch và tai biến mạch máu não. Ở Hoa Kỳ, bệnh về tim mạch được xếp vào hạng kẻ giết ngưới số 1, còn tai biến mạch máu não được xếp vào hàng thứ 3, sau ung thư.

5) Viêm khớp (Osteoarthritis) và Thống phong (Gouty Arthritis): Những người phì mập hay bị bệnh thống phong (gouty arthritis), thường xuyên bị đau nhức ở các khớp xương. Thêm vào đó, sự gia tăng thể trọng (mập phì) gây tổn thương cho các khớp, làm thoái hóa các đĩa sụn, đặc biệt là ở lưng và đầu gối, đưa đến chứng viêm khớp (Osteoarthritis).

6) Sạn mật (Gallstone): Vào khoảng 25% những người béo phì bị sạn mật. Theo nghiên cứu, phụ nữ mập phì trong độ tuổi 20-30 thường có nguy cơ mắc phải những bệnh liên quan đến túi mật cao hơn gấp 6 lần những người có thể trọng bình thường. Một phần ba các bà mập phì ở độ tuổi 60 bị các bệnh về túi mật.

7) Các bệnh về tim mạch (Cardiovascular Diseases) và Tai biến mạch máu não (Strokes): Đây là những bệnh thường gắn liền với các chứng cao huyết áp, cao mỡ trong máu (cholesterol), và tiểu đường. Béo phì, cộng với mỡ tích tụ nhiều ở vùng bụng làm gia tăng nguy cơ bị nhồi máu cơ tim, đột quỵ, và các bệnh về mạch máu.

8) Rối loạn tuyến nội tiết (Endocrine problems): Phì mập gây ra sự rối loạn các chu kỳ kinh nguyệt, cùng những biến chứng khi thai nghén, đặc biệt là chứng độc huyết thai nghén (toxemia of pregnancy) và cao huyết áp.

9) Những trục trặc ở bộ phận hô hấp (Lung and breathing problems): Phì mập cản trở sự trương nở và thanh lọc máu của phổi. Những người phì mập thường phải thở nhiều hơn, thế mà nhiều khi vẫn không đủ lượng oxy cần thiết cho các tế bào trong cơ thể.

10) Rối loạn giấc ngủ (Sleep Disorder): Người phì mập thường xuyên cảm thấy mệt nhọc và gặp nhiều trục trặc trong giấc ngủ. Những những hội chứng như thở nông (Picwickian), hay ngưng thở trong khi đang ngủ (Sleep Apnea) thường xảy ra ở những người béo phì. Họ thường bị khó thở về ban đêm. Những người nầy ngủ ngáy rất lớn, và trong giấc ngủ thường ngưng thở hoàn toàn có khi kéo dài đến cả phút. Trong những lúc đó, nhịp tim của họ trở nên bất thường có thể dẫn đến nhồi máu cơ tim (heart attacts) trầm trọng. Vì bị ngừng thở trong nhiều giây, khiến họ bị thức giấc, phải há hốc miệng hổn hển lấy lại nhịp thở, việc nầy thường xảy ra nhiều lần suốt đêm làm họ rất mệt nhọc vào ban ngày.

11) Chết yểu (Premature death): Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng những người phì mập thường chết sớm hơn những người có thể trọng bình thường cùng độ tuổi.

12) Phì mập còn gây ra những biến chứng khi thai nghén, lông phát triển nhiều ở mặt và thân thể (Hirsutism), tiểu són vì cơ vùng chậu yếu, không kềm chế được được, cũng như gặp nhiều biến chứng trong khi mổ xẻ.

13) Về mặt tâm lý và xã hội, người mập phì thường gặp những trục trặc về tâm lý như bị trầm cảm (depression) chẳng hạn, do họ gặp những hạn chế trong giao thiệp, quan hệ, nhất là những quan hệ tình cảm; trong khi làm việc, khi xin việc làm; bị chế giễu, kỳ thị trong lớp học, nơi sở làm; . . . khiến họ luôn mang mặc cảm tự ti, sống cô độc, từ đó, tâm bệnh phát sinh.

IV- NGUYÊN NHÂN VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ CHỦ YẾU:

1) Những nguyên nhân gây ra sự phì mập:
– Đưa vào cơ thể nhiều calories hơn là tiêu thụ chúng thông qua công việc, thể dục, và các hoạt động thân thể khác.
– Vì những lý do cảm xúc, như cảm giác cô độc hay trầm cảm, nhiều người đã ăn khi cơ thể không đòi hỏi.
– Một số người bị phì mập vì những trục trặc về sinh học như tuyến giáp trạng hay tuyến yên không hoạt động đúng chức năng. Một số người khác thì lại gặp có vấn đề về thể lý hay tàn tật khiến họ không thể tập thể dục, làm những công việc đòi hỏi sự vận động cao, hay những hoạt động thân thể khác. Các nhà nghiên cứu cho rằng nhiều trường hợp phì mập do một sự phức hợp các yếu tố di truyền, sinh lý, tâm lý, sự trao đổi chất, kinh tế xã hội, và văn hoá.
Ngoài ra, có một số yếu tố khác có thể đưa đến sự phì mập là:
– Những đứa trẻ có cha mẹ mập phì thì chúng thường mập phì hơn những đứa trẻ có cha mẹ bình thường.
– Những người nghèo, lợi tức thấp thường có khuynh hướng mập hơn những người sung túc.

2) Biện pháp phòng trị chủ yếu:

Ngoài những biện pháp chữa trị thông qua thuốc men hay phẩu thuật, đơn giản nhất là ăn ít lại và tập thể dục.
Nên ăn uống một cách bình thường, hợp lý, và điều độ các thức ăn có lợi cho sức khoẻ, ít calories nhưng nhiều dưỡng chất; đặc biệt là trái cây, rau xanh, và các cốc loại chưa tinh chế (whole grains) như bánh mì nâu (whole wheat bread), gạo lứt (chưa xay trắng), đậu các loại. Không nhất thiết phải cắt hẵn đường và chất béo, có điều đừng ăn qúa nhiều. Về đường, tránh ăn đường trắng tinh chế, và chỉ nên dùng dầu thực vật như olive, canola, . . . Điều cần lưu ý là đừng bao giờ bỏ qua một bữa ăn nào. Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng những người ăn ba bữa tiêu thụ calories nhiều hơn người bỏ qua một bữa ăn nào đó trong ngày.
Về vấn đề nên ăn uống như thế nào, nên ăn những thức ăn gì để phòng trị bệnh tật, khẩu phần ăn mỗi ngày bao nhiêu, v.v…. sẽ được trình bày đầy đủ trong bài THỨC ĂN VÀ SỨC KHỎE.

Thể dục đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc làm giảm cân và duy trì trọng lượng cơ thể ở mức ổn định. Thể dục còn giúp sống lâu hơn, khỏe mạnh hơn, ngăn ngừa chứng loãng xương, làm giảm sự đau nhức bắp thịt, các khớp, làm chậm tiến trình teo mềm các cơ ở các người lớn tuổi.
Nên tập thể dục ít nhất 30 phút mỗi ngày, và ít nhất 5 ngày một tuần; tức là 150 phút/tuần. Có thể chia 30 phút tập nói trên thành nhiều đợt nhỏ nếu không có thì giờ để tập một lần. Nên làm nóng người trước khi tập.
Về phương pháp tập có thể bơi lội, khiêu vũ, aerobics, đi xe đạp, tập thái cực quyền (tai chi), yoga, v.v… nhưng đơn giản, dễ dàng, không phải học, không tốn kém và có thể thực hành bất cứ lúc nào, bất kỳ ở đâu là đi bộ (walking).
Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng khi đi bộ với bước đi nhanh nhẹn (brisk walking) một cách thường xuyên sẽ làm tăng khả năng hấp thụ dưỡng khí (oxygen) của cơ thể, làm khỏe tim, hạ huyết áp, và nâng cao hiệu qủa làm việc của tim và phổi. Ngoài ra, đi bộ còn giúp tiêu thụ calories dư thừa tích tụ trong cơ thể.
Vì béo phì và cao huyết áp nằm trong số những nguyên nhân hàng đầu đưa đến nhồi máu cơ tim và tai biến mạch máu não, đi bộ giúp tránh hai kẻ giết người ấy.

Đi bộ tiêu thụ cùng một lượng calories mỗi dặm (mile) như khi ta chạy. Đi với bước nhanh (brisk walking) một dặm trong 15 phút cũng tiêu thụ cùng một lượng calories như người đi như chạy (jogging) một dặm trong 8 phút rưỡi. Theo một số nghiên cứu, người có thể trọng cao sẽ tiêu thụ nhiều calories hơn người có thể trọng thấp. Chẳng hạn người nặng 110 lbs tiêu thụ một lượng calories bằng 1/2 người người 216 lbs khi đi bộ cùng một vận tốc với cùng khoảng đường.
Mặc dù tăng vận tốc đi bộ không tiêu thụ nhiều calories hơn một cách đáng kể, việc tăng nhanh nhịp bước cũng tạo ra nhiều hiệu qủa trên nhiều mặt. Nhiều cuộc nghiên cứu gần đây cho thấy rằng với sự tập thể dục căng hơn như đi nhanh hơn, xa hơn sẽ lưu lại hiệu qủa lâu hơn. Sau một cuộc đi bộ với cường độ cao, sự trao đổi chất trong cơ thể vẫn tiếp tục duy trì hoạt động cao hơn mức bình thường với kết qủa là calories vẫn tiếp tục bị tiêu thụ.

Bạn có thể bắt đầu đi bộ thể dục khoảng 20 phút ít nhất 4 đến 5 lần một tuần với vận tốc (hay bước đi) mà bạn cảm thấy thoải mái, dễ chịu. Sau vài tuần, bạn có thể tăng lên 30 phút mỗi lần đi, và nhịp bước nhanh hơn. Để biết vận tốc đi như thế nào là vừa phải, bạn vừa đi, vừa nói. Nếu bạn nói hụt hơi, vậy là bạn đã đi qúa nhanh rồi đó. Bạn nên nhớ rằng vận tốc đi không quan trọng bằng thời gian bạn bỏ ra cho mỗi lần đi bộ. Mục tiêu để bạn đạt tới là đi một cách thoải mái 3 miles trong vòng 45 phút, nhưng đừng vội vàng đạt tới điều đó khi sức khỏe của bạn chưa cho phép.

Chúc bạn luôn có một thể trọng lý tưởng!
——————-///——————-

Ghi Chú: Sau đây là những dữ kiện giúp bạn chuyển đổi một số đơn vị tính giữa hệ cân đo Anh Mỹ và hệ Mét:
1 inch = 2.5 cm ; 1 m = 3.3 feet = 39.6 inches ;1 pound = 0.45 kg ; 1 kg = 2.2 pounds ; 1 food = 12 inches

Tagged:

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: